Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia giai đoạn gần đây

Thứ ba - 06/02/2018 02:57
Việt Nam - Campuchia là hai nền kinh tế gần gũi và gắn kết, chính vì vậy mà sự đầu tư và hợp tác luôn được quan tâm và đặt lên tầm quan trọng chiến lược. Hãy cùng điểm lại những dự án hợp tác mà song phương đã và đang tiến hành để thấy được tiềm năng từ thị trường này.
Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia giai đoạn gần đây
1. Hợp tác về đầu tư
Việt Nam hiện có hơn 183 dự án đầu tư sang Campuchia, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 2,86 tỷ USD. Đầu tư của Việt Nam tại Campuchia đứng vị trí thứ 3 trong tổng số 68 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư của Việt Nam (sau Lào 5,1 tỷ USD, Liên bang Nga 2,93 tỷ USD).
Tính riêng năm 2016, đã có 08 dự án đầu tư sang Campuchia được cấp mới Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký phía Việt Nam đạt 29,5 triệu USD.
Các dự án của Việt Nam đã có mặt tại 18/24 khu vực/ tỉnh, thành phố của Campuchia, chủ yếu tập trung tại Thủ đô Phnompênh, tiếp đến là các tỉnh giáp biên giới Việt Nam như Kratie, Mondukiri, Svay Riêng…Tính lũy kế đến nay, vốn Việt nam chuyển sang Campuchia để thực hiện dự án đạt 1,22 tỷ USD, chiếm 42,6% tổng vốn đầu tư đã đăng ký.
Về đầu tư nước ngoài vào Campuchia, Việt Nam hiện đứng vị trí thứ 5 (sau Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản và Hàn Quốc).
Hoạt động đầu tư của Việt Nam tại Campuchia tăng nhanh trong thời gian vừa qua; có mặt ở hầu hết các ngành, lĩnh vực quan trọng của Campuchia, tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực nông lâm nghiệp (chiếm gần 70% tổng vốn đăng ký); tài chính - ngân hàng - bảo hiểm (chiếm 9,4% tổng vốn đăng ký); viễn thông (chiếm 7,5% tổng vốn đăng ký). Các dự án còn lại nằm trong các lĩnh vực hàng không, khoáng sản, công nghiệp chế biến chế tạo, vận tải kho bãi, thương mại xuất nhập khẩu, y tế, xây dựng, du lịch - khách sạn, bất động sản và các dịch vụ khác.
Nhiều dự án đã đi vào hoạt động đạt hiệu quả tốt, nhà đầu tư đã có doanh thu và đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính với các cơ quan nhà nước Campuchia và tạo ra việc làm ổn định cho hàng vạn lao động của Campuchia. Các dự án nông nghiệp và trồng cây công nghiệp của doanh nghiệp Việt Nam đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội Campuchia, cải thiện đời sống nhân dân địa phương, cải thiện môi trường, thay đổi tập quán người dân, nhất là tập quán du canh du cư của người dân Campuchia.
Nhiều dự án đầu tư của Việt Nam đã có thương hiệu mạnh tại Campuchia như hãng viễn thông Metfone của Viettel; Hãng hàng không quốc gia Campuchia Angkor Air do Vietnam Airline nắm cổ phần chi phối; Ngân hàng đầu tư phát triển Campuchia (BIDC), Công ty bảo hiểm Campuchia - Việt Nam (CIV); nhiều hàng nông sản của Campuchia xuất sang thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc... do doanh nghiệp Việt Nam đầu tư. Hiện hãng viễn thông Metfone là doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất cho Chính phủ Campuchia.
Về đầu tư của Campuchia tại Việt Nam: Hiện Campuchia có 12 dự án còn hiệu lực đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt 52,6 triệu đô la Mỹ, đứng thứ 53 trong tổng số 112 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, có vốn đầu tư 45 triệu USD đầu tư trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản. Các dự án còn lại có quy mô nhỏ và đầu tư vào các lĩnh vực như vận tải, kho bãi; công nghiệp chế biến, chế tạo và thương mại.
Hoạt động hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Campuchia thời gian qua đạt được kết quả khả quan nêu trên do có một số thuận lợi sau:
- Quan hệ hữu nghị hợp tác truyền thống giữa hai nước luôn được duy trì và ngày càng phát triển tốt đẹp. Chính phủ Campuchia luôn dành những ưu tiên và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh tại Campuchia.
- Việt Nam và Campuchia gần gũi về địa lý, hoạt động trao đổi về kinh tế cũng như đi lại, xuất nhập khẩu hàng hóa, lao động giữa 2 nước rất thuận lợi.
- Campuchia còn có nhiều tiềm năng mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể hợp tác đầu tư như: khai thác, chế biến khoáng sản, trồng cây công nghiệp, cây cao su, sản xuất, chế biến nông - lâm sản.
- Một số dự án đầu tư mang tính dẫn đường như hàng không, ngân hàng, viễn thông... đã được cấp phép và đi vào hoạt động có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án khác sớm triển khai thực hiện và đi vào hoạt động.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp phải một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể như sau:
- Tình hình chính trị tại Campuchia thời gian gần đây có diễn biến, đã và đang tác động đến hoạt động đầu tư nước ngoài tại Campuchia, trong đó có các nhà đầu tư Việt Nam.
- Hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư của Campuchia đang trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện nên có nhiều thay đổi, không thống nhất, chưa thật sự minh bạch và khó tiếp cận. Thêm vào đó, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước chưa thật sự đồng bộ làm ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách. Nhìn chung, trao đổi về việc đầu tư ban đầu giữa doanh nghiệp và các cơ quan có thẩm quyền của Campuchia rất thuận lợi nhưng khi triển khai, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về thủ tục hành chính, quy hoạch đất đai, sự thiếu nhất quán trong áp dụng chính sách, đặc biệt là các quy định do địa phương đặt ra và áp dụng ngoài các chính sách của nhà nước. Đây là khó khăn cơ bản nhất trong hoạt động đầu tư tại Campuchia.
- Thời gian vừa qua, Chính phủ Campuchia có sự thay đổi đột ngột về chính sách đất đai như dừng cấp đất để thực hiện các dự án đầu tư nông, lâm nghiệp hoặc thay đổi thời hạn giao đất từ 70 năm, 90 năm xuống còn 50 năm đối với tất cả các dự án, kể cả dự án đã giao đất, cấp phép đầu tư trước đây (áp dụng hồi tố về thời hạn giao đất, cho thuê đất) đang gây khó khăn cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
- Đầu tư trong lĩnh vực trồng cây công nghiệp được đánh giá là thành công, tuy nhiên, do khó khăn về quỹ đất và nguồn nhân lực nên khả năng phát triển đầu tư quy mô lớn trong thời gian tới là rất khó khăn. Mặt khác, việc đầu tư gắn liền với cuộc sống của người dân nơi triển khai thực hiện dự án đầu tư, nên nhiều khi cũng xảy ra va chạm giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất. Thời gian gần đây, giá mặt hàng nông, lâm sản trên thị trường thế giới giảm mạnh, đang ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động đầu tư, kinh doanh của nhà đầu tư, đặc biệt là giá bán mủ cao su trên thị trường giảm khoảng 60% (từ 5000 USD/tấn năm 2011 xuống còn khoảng 1.200 USD tấn năm 2014).
- Đầu tư trong lĩnh vực khoáng sản tại Campuchia phần lớn vẫn tập trung ở giai đoạn khảo sát, thăm dò, trong khi điều kiện tự nhiên, xã hội nơi triển khai thực hiện dự án không thuận lợi, các số liệu không đầy đủ, hạ tầng giao thông, điện, nước không được bảo đảm. Do vậy, tính rủi ro của các dự án ở giai đoạn này thường rất cao.
- Tiềm lực về vốn, công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ mạnh; kinh nghiệm quản lý còn hạn chế nên còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình đầu tư, kinh doanh tại Campuchia.
- Sự liên kết lẫn nhau giữa các nhà đầu tư Việt Nam còn yếu. Các nhà đầu tư Việt Nam chưa tạo dựng được một cơ chế liên kết để tương trợ lẫn nhau trong quá trình hoạt động đầu tư tại Campuchia. Phần lớn các doanh nghiệp hoạt động đơn lẻ, manh mún, thậm chí gây khó khăn cho nhau, không có cơ chế liên kết để tăng tiếng nói đối với các cơ quan có thẩm quyền của Campuchia.
- Các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư sang Campuchia chưa nắm vững luật pháp, chính sách của Campuchia, còn chưa tuân thủ đầy đủ quy định của Campuchia. Một vài doanh nghiệp Việt Nam vi phạm pháp luật của bạn, không làm ăn nghiêm túc, dẫn tới làm mất uy tín của các nhà đầu tư Việt Nam.
- Lực lượng lao động tại Campuchia rất hạn chế, trình độ chuyên môn thấp, không đáp ứng được nhu cầu về lao động của nhà đầu tư cả về số lượng lẫn chất lượng, ý thức, kỷ luật của lao động Campuchia còn thấp, có khi tùy tiện nghỉ việc để tham dự lễ hội, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện các kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Một số ngành nghề, lĩnh vực đòi hỏi lao động trình độ cao rất khó tuyển dụng, phần lớn các doanh nghiệp phải đưa lao động từ Việt Nam sang, dẫn đến phải tăng chi phí đầu tư.


2. Hợp tác về thương mại
Năm 2015 tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 3,37 tỷ USD, trong đó XK Việt Nam sang CPC đạt 2,41 tỷ, kim ngạch NK từ CPC đạt hơn 954 triệu USD. CPC hiện nay là thị trường xuất khẩu lớn thứ 16 của VN và VN là nước xuất khẩu lớn thứ 4 của CPC. Ước thực hiện năm 2016 kim ngạch thương mại hai chiều VN – CPC có thể đạt 4 tỷ .
Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm sau sang Campuchia: Xăng dầu, sắt thép, phân bón, hàng dệt may, sản phẩm từ chất dẻo, máy móc thiết bị phụ tùng. Trong khi đó, các mặt hàng chính mà Việt Nam nhập khẩu từ Campuchia bao gồm: Cao su, hạt điều, gỗ, ngô… Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu nguyên phụ liệu thuốc lá và phế liệu sắt thép.
Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Campuchia trong số hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại với nước này. Giai đoạn 2010-2015, thương mại song phương Việt Nam – Campuchia có tốc độ tăng trưởng trung bình vào khoảng 18,5%. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia tăng trung bình 15,5%/năm, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Campuchia tăng trung bình 32,7%/năm.
Trong thời gian gần đây, quan hệ thương mại song phương gặp nhiều khó khăn, kim ngạch thương mại tăng trưởng ở mức thấp, đòi hỏi những giải pháp tháo gỡ từ cả hai phía Việt Nam và Campuchia. Cụ thể, trong năm 2015, tổng kim ngạch song phương giữa ta và Campuchiachỉ đạt 3,37 tỷ USD, tăng nhẹ 2,4% so với năm 2014. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,416 tỷ USD, giảm 9,4%. Kim ngạch nhập khẩu đạt 954 triệu USD, tăng 52,6% so với năm 2014. Mặc dù kim ngạch không đạt như mục tiêu nhưng so với xu hướng giảm tốc trong những năm qua, thương mại song phương hai nước đã dần được phục hồi.
Xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia
Trong năm 2015, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm sau sang Campuchia: Xăng dầu, sắt thép, phân bón, hàng dệt may, sản phẩm từ chất dẻo, máy móc thiết bị phụ tùng.
Mặt hàng xăng dầu và sắt thép chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Campuchia (hàng năm chiếm khoảng 35% tổng kim ngạch xuất khẩu). Tuy nhiên, tình trạng giá xăng dầu và sắt thép giảm chung trong năm 2015 và 4 tháng đầu năm 2016 đã kéo theo kim ngạch xuất khẩu hai mặt hàng này liên tục giảm, nhất là xăng dầu (mặc dù xét về lượng thì vẫn tăng).
Nhập khẩu của Việt Nam từ Campuchia
Trong khi xuất khẩu chính ngạch của Việt Nam sang Campuchia liên tục giảm kể từ cuối năm 2013 thì nhập khẩu chính ngạch của Việt Nam từ Campuchia tiếp tục tăng khá ấn tượng trong năm 2015, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Campuchiatăng 52,6%. Các mặt hàng chính mà Việt Nam nhập khẩu từ Campuchia bao gồm: Cao su, hạt điều, gỗ, ngô… Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu nguyên phụ liệu thuốc lá và phế liệu sắt thép.
Trong 4 tháng đầu năm 2016 có sự sụt giảm về kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Campuchia(đạt 372,6 triệu USD, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm 2015). Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của việc siết chặt quản lý xuất khẩu gỗ và trấn áp vận chuyển gỗ lậu của chính quyền Campuchia nên mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Campuchia xuất sang Việt Nam giảm mạnh tới 46,3%.
Đánh giá khó khăn trong thương mại Việt Nam - Campuchia
Xuất khẩu chính ngạch của Việt Nam sang Campuchia đang có xu hướng tăng trưởng chậm, giảm trong trong thời gian gần đây: Năm 2011 tăng 55%, năm 2012 tăng 17,6%, năm 2013 tăng 3%, năm 2014 giảm 3,9% và năm 2015 giảm 9,4%. Thương mại giữa hai nước trong thời gian qua nổi lên một số khó khăn như sau:
- Sự cạnh tranh gay gắt của hàng hóa sản xuất tại các nước khác, trong đó đáng chú ý là hàng hóa từ Thái Lan, Trung Quốc và các nước ASEAN.
- Tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam giảm tương đối do Campuchia tận thu thuế hải quan dẫn đến thủ tục thông quan hàng hóa tại các cửa khẩu bị ách tắc, mất thời gian hơn trước, chi phí logistics tăng, giá cả hàng hóa xuất khẩu tăng.
- Phần nhiều các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa quan tâm thực sự tới việc thiết lập kênh phân phối của mình tại thị trường Campuchia mà chủ yếu là bán hàng cho các thương nhân Campuchia để họ tự phân phối tại thị trường. Điều này khiến cho việc phân phối hàng hóa không có sự chủ động và khó điều chỉnh trong những thời điểm gặp khó khăn. Thực tế là các nhà phân phối Campuchia luôn có xu hướng đa dạng hóa nguồn cung hàng hóa nên rất dễ thay đổi quan hệ đối tác với thương nhân Việt Nam.
- Cư dân biên giới của Campuchia mang số tiền vượt quá quy định của pháp luật Việt Nam, tình trạng này đang diễn ra thường xuyên trong thương mại biên mậu giữa hai nước do có sự chênh lệch lớn trong quy định định mức tiền mặt được mang qua biên giới.
- Cơ sở hạ tầng biên giới hiện nay còn thiếu và còn yếu, đặc biệt là hệ thống ngân hàng phục vụ cho nhu cầu thanh toán biên mậu và hệ thống chợ biên giới nhằm thúc đẩy việc trao đổi thương mại của các tỉnh biên giới Việt Nam và Campuchia.
- Hoạt động của các chợ biên giới còn hạn chế, cơ sở hạ tầng xuống cấp, thiếu đầu tư và hoạt động với quy mô nhỏ lẻ, phục vụ chủ yếu nhu cầu hàng ngày của cư dân biên giới. Tuy hệ thống chợ biên giới đã được quy hoạch nhưng việc cấp vốn cho địa phương triển khai thực hiện chưa thực sự được chú trọng, do đó việc xây dựng mới hay nâng cấp các chợ biên giới theo quy hoạch chưa được triển khai theo đúng lộ trình.
- Các biện pháp tạo thuận lợi cho người, hàng hóa và phương tiện qua lại hai bên biên giới còn chậm,... Việc thực hiện mô hình một cửa, một điểm dừng tại cặp cửa khẩu quốc tế Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh) , Ba Vet (tỉnh Svay Rieng) còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong khâu kiểm dịch động thực vật.
- Tình trạng vận chuyển hàng nhập lậu từ biên giới Campuchia vào nội địa vẫn còn diễn ra phức tạp với những phương thức, thủ đoạn tinh vi nhằm trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của các lực lượng chống buôn lậu, tập trung tại các địa bàn các tỉnh giáp biên Campuchia như An Giang, Kiên Giang, Long An, Tây Ninh, Bình Phước. Hàng nhập lậu qua biên giới hai nước chủ yếu là thuốc lá, rượu ngoại, mỹ phẩm, điện thoại di động, đồ điện tử, đường kính, lâm sản, phụ tùng ô tô, ô tô tạm nhập tái xuất…Vấn đề nóng bỏng nhất là hoạt động buôn lậu thuốc lá ngoại.
- Từ cuối năm 2013, Hải quan Campuchia siết chặt công tác kiểm hóa, doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa tổng hợp đã gặp khó khăn về kê khai hải quan do thường nhập một lô hàng với rất nhiều mặt hàng khác nhau. Trong khi đó, hàng hóa từ Trung Quốc, Thái Lan xuất khẩu sang Campuchia thường theo các lô hàng lớn, thuận lợi cho công tác kê khai, kiểm hóa tại cửa khẩu. Ngoài ra, các nhà phân phối Campuchia luôn có xu hướng đa dạng hóa nguồn hàng nên dễ thay đổi quan hệ đối tác với các nhà sản xuất của Việt Nam.
Hoạt động xúc tiến thương mại tại Campuchia
Nhằm xúc tiến xuất khẩu sang thị trường Campuchia, Bộ Công Thương đã chủ trì và phối hợp với các đơn vị, địa phương của Việt Nam tổ chức và tham gia các hội chợ, triển lãm nhằm giúp kết nối giao thương, quảng bá sản phẩm của Việt Nam, cụ thể như sau:
- Hội chợ Thương mại Quốc tế Tịnh Biên – An Giang: Được tổ chức định kỳ hàng năm, Hội chợ Thương mại Quốc tế Tịnh Biên – An Giang được nâng cấp từ địa phương lên cấp quốc gia và quốc tế có sự tham gia của doanh nghiệp Campuchia và Thái Lan. Hội chợ giới thiệu các ngành hàng như: nông - thủy sản, hàng tiêu dùng, hàng thực phẩm, dụng cụ gia đình, giày dép, may mặc, công nghệ phẩm, máy móc thiết bị, hàng điện tử, gia dụng, đồ gỗ và trang trí nội thất, vật liệu xây dựng, nông phẩm, nông dược và quảng bá du lịch...Thực hiện chương trình Xúc tiến Thương mại quốc gia (XTTMQG) được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt, Hội chợ năm 2016 được tổ chức từ ngày 27/05 đến 01/6/2016 với 450 gian hàng trong và ngoài nước.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp Campuchia tham gia vào các Hội chợ, triển lãm tại Việt Nam như: Hội chợ thương mại quốc tế Việt Nam (VIETNAM EXPO), Triển lãm Quốc tế Công nghiệp Thực phẩm Việt Nam (Vietnam Foodexpo).
- Theo Chương trình XTTMQG đã được duyệt, Hội chợ Thương mại Việt Nam tại Campuchia 2016 sẽ được tổ chức vào quý IV tại Phnompenth do Trung tâm Triển lãm và Xúc tiến thương mại quân đội, Bộ Quốc phòng Việt Nam làm đơn vị chủ trì.
- Ngoài ra, các hoạt động XTTM khác tại Campuchiacũng đã được phía Việt Nam tổ chức và/hoặc tham gia như: Hội chợ Triển lãm Thương mại - Dịch vụ - Du lịch Việt Nam - Campuchia(Ho Chi Minh City Expo) do Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thường niên tại Campuchia; Hội chợ xuất nhập khẩu và mỗi tỉnh một sản phẩm Campuchia; Hội chợ thương mại thường niên tỉnh Kampong Speu.


3. Về giao thông vận tải
Việc triển khai các thỏa thuận, Hiệp định đã ký trong thời gian qua cơ bản thuận lợi góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế-xã hội, thương mại, du lịch của hai nước. Hai bên đang tiếp tục tiến hành đàm phán hướng tới tăng quota phương tiện qua lại biên giới hàng năm giữa hai nước. Hai bên đang tiếp tục đàm phán nội dung dự thảo Đề án quy hoạch tổng thể kết nối mạng giao thông vùng biên giới giữa Việt Nam và Campuchia;
Về triển khai các dự án: Hai bên luôn tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy tiến độ xây dựng cầu Long Bình-Chrey Thom, dự kiến đưa vào khai thác sử dụng vào cuối năm 2016. Hai bên đã thống nhất phối hợp thúc đẩy dự án đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh-Phnôm Pênh. Hoàn thành đoạn nối giữa cửa khẩu Lệ Thanh và O Yadav đưa vào khai thác sử dụng ngày 26/12/2015./

Nguồn tin: Theo Hợp Tác & Phát Triển

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

CÁC DANH MỤC ĐĂNG TIN
dich vu dna
viec lam dna
mua ban dna
hop tac copy dna


.





















.
DANG TIN 2
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây